Đây là nhóm bơm hố khoan cỡ nhỏ, sinh ra cho những giếng có lòng hẹp mà máy bốn inch không thả xuống được: giếng khoan tay, giếng đóng ống nhỏ ở vùng đồng bằng, giếng cũ đã bị bó ống hoặc giếng khoan thăm dò.
Đo trên chính danh mục này, dải công suất các model đang bán nằm trong khoảng từ 0,25 kW tới 1,5 kW. Nhóm thân nhỏ hơn gọn hơn cả, luồn được vào lòng giếng rất hẹp. Nhóm thân lớn hơn to hơn một chút nên buồng bơm rộng hơn, cho lưu lượng khá hơn khi lòng giếng cho phép.
Thân mảnh nên phải ghép nhiều tầng
Máy gồm đầu bơm nhiều tầng cánh xếp nối tiếp và động cơ chìm gắn phía dưới. Nước vào qua lưới lọc ở giữa thân, đi lần lượt qua từng tầng cánh, mỗi tầng cộng thêm một phần cột áp. Vì thân máy rất mảnh nên mỗi tầng chỉ cho lưu lượng nhỏ; muốn đẩy cao, nhà máy ghép thêm tầng chứ không thể nới rộng đường kính. Đó là lý do nhóm này có những model thân rất dài.
Ống nước ra của nhóm này nhỏ, thường đi kèm ống mềm chịu áp thả xuống giếng. Ống ra càng nhỏ thì tổn thất ma sát càng lớn, nên với giếng sâu nên chọn ống ra lớn hơn một cấp so với cổ máy để nước lên đủ.
Chọn thân nhỏ hơn hay thân lớn hơn
Yếu tố quyết định đầu tiên là lòng giếng, không phải nhu cầu nước. Đo đường kính trong của ống chống giếng, trừ đi phần dự phòng cho ống không thẳng, còn lại mới là cỡ máy thả được. Lòng giếng chỉ vừa thân nhỏ hơn thì dù cần nhiều nước cũng không nhét được thân lớn hơn xuống. Ngược lại, giếng đủ rộng thì nên ưu tiên thân lớn hơn vì cùng một mức điện, máy thân to cho lưu lượng khá hơn.
Nhóm này chỉ dùng cho nước sạch
Khe hở giữa cánh và buồng bơm của máy thân nhỏ rất hẹp, nên nước lẫn cát là điều kiêng kỵ. Chỉ một lượng cát mịn cũng đủ mài mòn mép cánh và làm kẹt tầng cánh. Trước khi thả máy phải thổi rửa giếng cho tới khi nước ra trong; bơm thử vào xô sạch, để lắng nửa giờ mà thấy cát dưới đáy thì giếng chưa dùng được cho nhóm máy này.
Đo mực nước động trước khi tính cột áp
Mực nước động là mực nước khi máy đang bơm liên tục, luôn thấp hơn mực nước lúc giếng nghỉ. Cách đo là cho bơm chạy một lúc cho mực nước ổn định rồi thả dây đo. Lấy nhầm mực nước tĩnh là nguyên nhân quen thuộc khiến máy mua về thiếu cột áp, nước lên yếu rồi bị quy oan là máy kém.
Cột áp cần bằng độ sâu mực nước động cộng chiều cao từ miệng giếng lên bể chứa cộng tổn thất ma sát dọc đường ống. Trong cùng một seri, các model khác nhau ở số tầng cánh: nhiều tầng thì đẩy cao mà lưu lượng vừa, ít tầng thì lưu lượng lớn mà đẩy thấp.
Giếng lưu lượng yếu và cách xử lý
Giếng khoan tay và giếng đóng ống nhỏ thường có lưu lượng yếu. Nếu máy hút nhanh hơn khả năng của giếng thì mực nước tụt tới cửa hút và máy chạy khô, đây là nguyên nhân cháy động cơ chìm nhiều hơn cả.
Cách xử lý đúng không phải là chọn máy khoẻ hơn với hy vọng lấy được nhiều nước hơn, mà là lắp bảo vệ chạy cạn kèm bộ hẹn giờ hoặc phao báo mực nước, để máy nghỉ cho giếng hồi nước rồi chạy tiếp. Nếu nhu cầu nước thật sự lớn hơn khả năng giếng thì phải khoan giếng mới hoặc bổ sung bể chứa trung gian.
Bắt đầu từ công trình, không bắt đầu từ catalogue
Phần lớn ca phải đổi máy giữa chừng không phải vì máy kém, mà vì máy được chọn không khớp với công trình: thiếu cột áp nên nước lên yếu, dư công suất nên tốn điện, hoặc chọn nhầm dòng cánh nên cát phá máy sau vài tháng. Chi phí của một lần chọn sai không chỉ là tiền mua máy thứ hai mà còn là công tháo lắp và thời gian công trình phải dừng.
Vì vậy trình tự đúng luôn là: đo hiện trạng trước, chọn model sau. Bốn số cần có gồm lưu lượng nước cần trong một giờ, cột áp phải đẩy tính cả tổn thất đường ống, nguồn điện tại chỗ là một pha hay ba pha, và đường kính ống hiện có. Với giếng khoan thì thêm đường kính lòng giếng và mực nước động đo khi bơm chạy liên tục.
Tư vấn và đặt hàng
Nhân viên phụ trách nhóm hàng này là Thảo, hotline 0866 918 788. Anh chị gửi trước hiện trạng công trình; chưa đo được thông số cũng không sao, cứ mô tả nguồn nước, nơi cần đưa nước tới và cách dùng, nhân viên ước lượng giúp rồi đề xuất vài phương án để so sánh trước khi chốt.
Hàng có sẵn tại kho Hà Nội và kho TP. Hồ Chí Minh, giao trong ngày tại hai thành phố, các tỉnh gửi qua nhà xe hoặc chuyển phát tuỳ khối lượng và mức độ gấp. Sau khi giao máy, thợ tại công trình gặp vướng khi đấu điện, khi mồi nước hay khi máy chạy không như mong đợi đều gọi hỏi được; phần hỗ trợ hướng dẫn kiểm tra theo từng bước để khoanh vùng nguyên nhân trước khi tháo máy.
Bảo hành và phụ tùng
Thời gian bảo hành theo xuất xứ máy: hàng Đài Loan, Trung Quốc và Ấn Độ bảo hành mười hai tháng; hàng Ý bảo hành hai mươi bốn tháng. Bảo hành tính từ ngày xuất hoá đơn và tra theo số seri trên thân máy, nên mất phiếu giấy vẫn tra được lịch sử máy.
Phụ tùng thay thế cho các dòng đang bán được giữ sẵn: phớt cơ khí, vòng bi, cánh bơm, bạc dẫn hướng, lọc gió, gioăng, tụ điện và dây nguồn. Máy hết hạn bảo hành vẫn sửa được thay vì phải bỏ. Khách hàng doanh nghiệp lấy hoá đơn VAT xuất cùng ngày giao hàng, ghi đúng tên model và số seri.